Playlist for July, 2011





LINKDOWNLOAD: http://www.mediafire.com/?3mdd1ag1j0rd92r




BALAM ACAB - Oh, why (Wonder / Wander, 2011)
BALAM ACAB rõ là một nghệ danh đầy bí ẩn của chàng trai trẻ Alec Koone, 20 tuổi đến từ một thị trấn nhỏ của Pennsylvania. Năm ngoái, EP See Birds, một sản phẩm đầu tay được ra mắt nhưng lại bị chìm lẫn. Không vì thế mà chàng trai trẻ Alec bị chùng bước, quyết tâm trở lại trong năm nay với thứ âm nhạc ấn tượng và sâu sắc hơn. Bài hát Oh, why này quả là một sản phẩm quảng cáo đầy tuyệt vời cho album Wonder / Wander chuẩn bị tung ra vào tháng 8 đến. Nhẹ nhàng, ám ảnh như những cơn sóng vào buổi đêm, âm nhạc của BALAM ACAB là điển hình của sự thu hút, hấp dẫn chillwave.
J Mascis - Is it done (Several Shades of Why, 2011)
Giữa muôn trùng âm nhạc đang bị điện tử và beat hóa thì âm nhạc của J Mascis chính là thứ chúng ta cần. Cách đây 26 năm, trong album debut, J Mascis đã hát “Tôi không bao giờ cố gắng quá sức bởi vì tôi thấy sợ hãi các cảm xúc”. Và bây giờ album Several Shades of Why có vẻ như vẫn là như thế, nhưng chúng ta có thể cảm nhận được sau giọng ca trầm ấm và giai điệu đơn giản là những cảm xúc lắng đọng như một lời thú tội của chàng trai già 45 tuổi này với cuộc đời. Album mới này cũng có sự tham gia hợp tác của Ben Bridwell đến từ Band of Horses, Kevin Drew của band Broken Social Scene, và cuối cùng là Kurt Vile, người đã xuất hiện trong playlist tháng 3 vừa rồi.
The Wind – Hathor (Harum Scarum, 2011)
The Wind sẽ đưa chúng ta quay ngược thời gian về lại những năm 60 hay 70 bởi chất âm nhạc của họ rất giống với Beach Boys hay The beatles. Thật sự đây là một sự giải thoát khi mà Channel V và cả Yan TV đều bị chìm ngập trong Korean Music và Auto-tune. Nhẹ nhàng, trong sáng đúng với chất American rock xưa, nhạc của the Wind có thể không có sự đột phá lớn nhưng cũng rất đáng để chúng ta lắng nghe và nhớ đến những chuyện xa xưa, khi mà một Sài Gòn chưa đông đúc và chật chội như thế này, khi mà Yoko vẫn chưa làm tan rã The Beatles hay chỉ đơn giản là bố mẹ chúng ta trong thế nào ở 30 năm trước.
Pictureplane - Post Physical (Thee Physical, 2011)
Sau 2,3 lần bị để qua một bên thì tháng này, Ka nhất quyết đem Pictureplane vào playlist tháng này.
Mặc dù bản thân hoàn toàn không thích vẻ bề ngoài của anh chàng 26 tuổi Travis Egedy này (lòe loẹt quá) nhưng không thể phủ nhận tài năng của chàng ta trong lĩnh vực synthpop. Không hiểu vì sao nhưng mỗi lần nghe nhạc Pictureplane, Ka luôn liên tưởng đến những buổi sáng hangover vẫn còn tàn dư của đêm say hôm trước. Một chút chếch choáng, một chút mơ tưởng, một chút không thực là thế. Có thể vì vậy là âm nhạc của Pictureplane được gọi là trance-music (âm nhạc hôn mê) chăng?
Charli XCX – Stay away (EP, 2011)
Ka chắc chắn sẽ không ai muốn “stay away” – bỏ đi khi nghe bài hát này. Âm nhạc của cô nàng tuổi teenager đầy tài năng này có một chút gothic và sự ảnh hưởng của pop thập niêm 80, dù lời bài hát toàn “stay away” nhưng người nghe chỉ muốn chạy lại thật gần để chứng minh bản thân là sự ngọt ngào khó chối từ. Bản remix của Salem cho bài hát này cũng rất hay và ấn tượng, bạn có thể nghe và xem tại www.youtube.com/watch?v=2LZxH_0TFFw
Imamiwhoami - T (to whom it may concern, 2010)
Imamiwhoami có thể xem là hiện tượng âm nhạc bí ẩn nhất vào năm 2010. Các video dark art không rõ tung tích được tung lên youtube. Bạn Ka nhớ thời gian đó mỗi khi 1 video được tung ra là dân tình lại lùng lục tự hỏi Imamiwhoami là ai mà lại tuyệt vời, ấn tượng đến thế. Nhiều ca sĩ được lọt vào tầm ngắm, Goldfrapp, Lady Gaga, thậm chí là cả Christina Aguile… Cuối cùng sau một loạt video, gương mặt của nhân vật chính lộ diện ngày càng rõ, đó chính là ca sĩ Jonna Lee. Khác với âm nhạc mộc mạc chậm rãi thường thấy của cô, có thể nói Imamiwhoami là sự thay đổi 180 độ của Jonna Lee. Và dù thế nào đi chăng nữa, chúng ta cũng phải ngã mũ trước tài năng của cô.
Röyksopp – What else is there? (The Understanding, 2005)
Nếu bạn không biết Röyksopp là ai thì sau bài hát này, nó sẽ khiến bạn lùng lục mọi thông tin về band và download tất cả album về nghe. Và bạn Ka cũng từng như thế. Thật khó có thể viết review cho bài hát này vì quả thật nó quá tuyệt vời. What else is there? Là bài hát có sự hợp tác hoàn hảo của 2 chàng trai người Na-uy và singer Karin Dreijer Andersson của band nhạc The Knife. Với giọng hát đầy đặc biệt của Andersson và giai điệu ấn tượng này đã tạo nên một sự hấp dẫn quyến rũ đầy chết người. Cũng đừng quên xem bản music video đầu ấn tượng của single này: www.youtube.com/watch?v=ADBKdSCbmiM





Unknown Mortal Orchestra – How Can U Luv Me [Unknown Mortal Orchestra (2011)]: UMO là một phiên bản vui nhộn của nhóm psychedelic rock đến từ Úc khá đình đám vào năm ngoái là Tame Impala. Trong khi chất psychedelic của Tame Impala mang cái mê sảng của thành phố Perth vào một ngày nắng gắt, thì UMO lại đầy những cơn gió ngẫu nhiên của mùa hè. How Can U Luv Me là một party opener hoàn hảo, dễ làm liên tưởng đến bầu không khí tươi trẻ của một buổi party ngoài trời những năm 60s, các cô cậu vận những bộ đồ vintage được cắt gọn gàng, lắc lư theo nhạc với ly rượu ngọt trong tay.
The National - Wasp Nest [Cherry Tree EP (2004)]: giọng hát tay ca sĩ chính của The National, Matt Berninger, có thể khiến những ai dũng cảm cover lại những ca khúc anh từng hát phải xấu hổ. Chất baritone dày và ấm đặc trưng của Matt không hẳn là chất giọng diễn cảm nhất; anh hát tự nhiên, nén nhiều cảm xúc vào trong nhưng lại đủ đem lại những cú chạm vô cùng đặc biệt và tinh tế vào mỗi bài hát mà không cần phải làm quá nhiều trò với vocal của mình. Thật khó tưởng tượng những About Today, Fake Empire, Start A War, City Middle,... khi thiếu vắng giọng hát của anh. Wasp Net kể về cảm xúc của một người đàn ông khi nhìn thấy cô gái trong bữa tiệc trong chiếc váy mẹ cô từng mặc, trên tay là martini trong cốc giấy, hững hờ và nguy hiểm như „thuốc độc trong một chiếc ly đẹp“. Chiếc tổ ong vò vẽ không có vẻ gì là một so sánh hợp lý với vẻ đẹp của người phụ nữ và ngay cả những dòng „trần trụi“ như „lại đây, anh muốn được hôn lên chiếc cổ thon thả của em“ qua giọng hát yên tĩnh của Matt khiến ta như đang được thưởng thức chầm chậm một ly champagne ngon giữa vẻ đẹp của một buổi chiều tà vậy.
SBTRKT (feat. Sampha) – Something Goes Right [SBTRKT (2011)] lại thêm một nghệ sĩ electro tài năng khác từ lò London của Anh. Khác với vẻ ngoài xa lạ (anh luôn đeo mặt nạ khi biểu diễn), thứ nhạc điện tử của anh lại gần gũi, giàu giai điệu, ít khi bị chôn vùi dưới hàng tấn hiệu ứng, bass và beat mà Something Goes Right là một ví dụ điển hình. Không quá lố nhưng vẫn vừa đủ để lắc lư, cộng thêm với giọng hát ấm áp như đo ni đóng giày của Sampha đủ tạo ra một track rất bắt radio. Giữa một rừng các electro producer thử nghiệm với các âm thanh mới để tạo ra chiều sâu trong âm nhạc của họ, sự dễ chịu của SBTRKT lại hiếm có lạ thường.
Clams Casino – Drowning [Rainforest EP (2011)]: Rainforest là EP tốt nhất trong năm 2011 mà bạn Ki được nghe đến giờ. 5 track được xây dựng quanh chủ đề „rừng rú“, âm thanh mang hướng âm u, dày đặc, nhiều texture nhằm mô phỏng không khí của một khu rừng nhiệt đới. Bó đũa chọn cột cờ, Drowning có lẽ là track nổi bật hơn cả. Hơn 30s mở đầu khá im lặng tạo cảm giác như đang rơi từ trên một thác nước cao rồi cú chạm vào mặt nước bằng phần vocal sample mạnh mẽ và nhấn chìm thính giác người nghe bằng phần beat không thể tốt hơn. Tiếng piano và vocal sample tiếp tục tương phản với phần beat như một mặt nước dưới màn mưa, ta đang chìm đắm phía dưới đấy mà không thể thoát ra được. Điểm trừ duy nhất của Drowning có lẽ là độ dài khá ngắn chưa đủ tạo cảm giác phê cho người nghe.
The Tallest Man On Earth – Weather of a Killing Kind (2011): vẫn là một track đóng mác TTMOE không lẫn đi đâu được, và nếu anh vẫn hát như vậy, chơi guitar như vậy, những sáng tác vẫn giản dị vậy, những ai đã nghiện giọng hát của anh vẫn sẽ không hề thấy chán. Với giọng hát như một nồi cơm khê bốc khói thơm lừng, cách sáng tác và chơi nhạc lãng tử nhưng có lẽ đã cũ hàng chục năm, thật bất ngờ khi mỗi track mà TTMOE tung ra đều đem lại cảm giác tươi mới. Weather of a Killing Kind với phần lời nhiều ẩn dụ dường như nói về những vấn bất an, mất mát trong cuộc sống, quan hệ, tình yêu mà ta muốn lẩn tránh nhưng vẫn phải đối mặt.
Max Tundra – I Wanna Be Your Lover (2011): lại thêm một chút groovy cho playlist tháng này. Là một hit bự của Prince vào năm 1979, Max Tundra cover lại khá trung thành với bản gốc với điểm khác biệt lớn nhất có lẽ là việc đẩy tempo lên nhanh hơn và một ít âm thanh synth mới mẻ. Nghe chừng không có vẻ gì là một bản cover đáng kể, nhưng đôi khi việc làm mới đến mức phá nát một bản gốc hoàn hảo chưa chắc đã là hay. Rất hoan nghênh khi Max Tundra lục lại một hit cũ bị bỏ quên, đánh bóng lại và đem giới thiệu người nghe, như một đóng góp nhỏ vào phong trào hoài cổ khá phổ biến gần đây trong dòng indie. Riêng với bạn Ki thì khá bất ngờ khi một track cũ không cần chỉnh sửa quá nhiều, lại thuộc dòng nhạc „nhựa“ và dễ lỗi thời như funk/disco lại catchy và mới mẻ như vậy.
Exitmusic – The Sea (2011): một track theo trường phái ấn tượng, khởi đầu nhẹ nhàng, tempo được tăng từ từ, bùng nổ trong tiếng guitar rồi trở lại yên tĩnh tạo cảm giác như những cơn sóng ngoài khơi xô bạc đầu vào vách đá rồi lại giãn ra trở ngược lại biển. Giọng Aleksa khi cô hát „It's a silent sea“ nghe như những cơn gió lồng lộng vùng biển một ngày sắp bão, có độ bay mà vẫn ẩn chứa đầy sự bất an và dữ dội. Một track mở đầu đầy hứa hẹn cho nhóm nhạc post-punk mới ra lò này
Robag Wruhme – Ende [Thora Vukk (2011)]: trái ngược với How Can U Luv Me của UMO, Ende – như tên gọi – dường như lại vô cùng thích hợp để làm một party closer. Phủ lên cả track là bầu không khí nhẹ nhàng, lành lạnh vào buổi sớm, khi bữa tiệc vào lúc kết thúc, bia và tàn thuốc vương vãi khắp nơi, những đứa trẻ nhảy nhót mỏi mệt đã ngủ quên trên sofa và mặt trời ngoài cửa sổ bắt đầu ló dạng phía hừng đông. Không đột phá về nhịp phách hay phần production, Ende hài hòa từ phần beat đến phần vocal ấm áp và piano như dư vị mệt mỏi nhưng đầy ngọt ngào sau một đêm dài vui vẻ.

Another playplists: Link here

Labels: ,