Playlist 082012

*all reviews written by Ki
cover & banners by Ka

 

Bộ đôi KaKi trở lại tháng này mặc dù có hơi muôn màng một chút. Với nửa phần đầu khá trầm của bạn Ki, chắc chắn những ai muốn một chút lắc lư, một chút vui vẻ sẽ hài lòng với 10 track còn lại được bạn Ka chọn.

Enjoy, mọi người! http://www.mediafire.com/?xj2pn3277thfcew







David Sylvian + Shree Maa – Praise (Pratah Smarami) [Dead Bees On A Cake (1999)]:Sylvian là một trong những vocal nam ưa thích nhất mọi thời của mình. Nhưng trong playlist tháng này, thay vì nghe giọng của ông, mọi người cùng nghe Praise, track mà theo chính Sylvian là đỉnh cao trong toàn bộ album Dead Bees On A Cake. Praise dựa trên một bài kinh Phạn mà Shree Maa, một nhà truyền giáo người Ấn, hay hát vào lúc buổi sáng, trong thời gian bà sống với gia đình của Sylvian ở California. Trên phần phối bàng bạc của Sylvian, vẻ đẹp trong giọng hát của Shree Maa bộc lộ ra tự nhiên như một hơi thở; vẻ đẹp không nhờ sự tôi dũa qua hàng trăm giờ luyện thanh, mà được nuôi dưỡng bằng chính sự thành tâm, mộ đạo thuần khiết nhất. 

Mount Eerie – Yawning Sky [Clear Moon (2012)]: Clear Moon là một album hay, nhưng hoàn toàn không dễ tiếp cận, một phần cũng do phần concept và âm thanh đầy mơ hồ, đa chiều. Và cách cảm nhận tốt nhất toàn bộ không khí mà đĩa nhạc mang trong mình là nghe hết một lượt 11 tracks của nó. Rất may là một track như Yawning Sky vẫn có thể đứng riêng không lạc lõng, để có thể giới thiệu với mọi người. Phần trống thong dong buồn bã, tiếng guitar âm vang từ đâu đó xa xôi , giọng hát thì thầm như được phủ lên một màn sương; thật không thể không nghĩ đến „bầu trời ngái ngủ“ một ngày giá lạnh nhất tháng giêng.  

Tom Zé – A Felicidade [Estudando O Samba (1975)]: không được biết nhiều đến, cũng không sở hữu giọng ca mượt như lụa như hai tượng đài dòng tropicalía của Brazil là Caetano Veloso và Gilberto Gil. Âm nhạc của Tom Zé bị rơi vào quên lãng trong gần 2 thập kỷ trước khi sống trở lại vào những năm 90s nhờ khám phá của nhà sản xuất lừng danh David Byrne. Dù chỉ mới nghe đến ông gần đây, nhưng cảm nhận đầu tiên là âm nhạc của Tom Zé góc cạnh, sinh động và ngẫu hứng hơn hai vị kia. A Felicidade được Tom Zé cover lại của huyền thoại Tom Jobim. Và hạnh phúc (felicidade) của ông dường như cũng khác biệt hoàn toàn so với bản gốc và các cover khác, từ tốn như mặt trời dịu ngọt mọc lên vào buổi sớm vậy; cho dù „tristeza não tem fim, felicidade sim“ – nỗi buồn không có kết thúc, nhưng hạnh phúc thì có.

Ryuichi Sakamoto + Alva Noto – By This River [Summvs (2003)]: từ thời kỳ biết nghe nhạc „chất lượng“, có lẽ không một nghệ sĩ nào tôi nghe nhiều như Ryuichi Sakamoto và cá nhân xin được phong ông làm „The King of Chords“ – Vua hợp âm. Không tạo ra bất kỳ đột phá nào, nhưng sự tinh tế trong việc sắp xếp hòa âm khiến âm nhạc của Sakamoto luôn cuốn hút, dù đó chỉ là những giai điệu đơn giản, những chuỗi accord lắc léo hay những khía cạnh gai góc khi ông thể nghiệm với âm nhạc tối giản hay điện tử. By This River, một trong rất nhiều hợp tác của ông và nghệ sĩ âm thanh của Đức – Alva Noto, là một vi dụ rất điển hình, phần giai điệu chìm dưới những tầng âm thanh như rượu Amaretto và cà phê espresso thấm trong từng chiếc bánh ladyfinger trong một ổ tiramisù vậy.

The Antlers – Drift Dive [Undersea EP (2012)]: một EP mà chính The Antlers xác nhận dùng để mô phỏng „sự thanh thản khi chìm vào giấc ngủ hay rơi dần xuống đáy đại dương“. Track mở đầu Drift Dive, không chứa đựng một âm thanh mô phỏng trực tiếp về nước hay cố ý áp đảo và nhấn chìm người nghe bằng một phần phối dày khủng khiếp. Ở đây, khí nhạc thăng hoa dù chỉ giản dị với trống, guitar, nhấn nhá bằng trumpet. Drift Dive không hẳn mô tả tự thân việc chìm đắm, đúng hơn là cảm giác bồng bềnh và tầm nhìn rộng mở lên mặt biển rực rỡ bên trên trên khi ta dần rơi xuống đáy biển.

Massive Attack ft. Hope Sandoval – Paradise Circus [Heligoland (2010)]: cái hay của những vocal như Hope Sandoval, dù họ chỉ hát mỏng như một làn khói thuốc, nhưng từ chữ được hát lên vẫn mang sức nặng cảm xúc ghê người. Nhưng sự mơn man khi Hope Sandoval nhấn nhá từng câu hát của Paradise Circus rất dễ đánh lừa thính giác của người nghe, và khiến ta quên mất cái cốt lõi của cả bài: tình yêu bị nuốt chửng trong dục vọng. Music video của nó cũng là một trong những MV nặng đô nhất mà tôi từng biết, với sự xuất hiện của cụ bà Georgina Spelvin, một cựu ngôi sao khiêu dâm kể về những cảm xúc khi đứng trước máy quay ngày xưa, và những cutscene trần trụi từ tác phẩm (khiêu dâm, đương nhiên) lừng danh của bà - The Devil in Miss Jones. Một bài hát (và video) rất đáng nghe (xem) nếu như bạn nghe (xem) với một cái đầu lành mạnh. Bởi lẽ như Spelvin nói trong frame hình gần cuối MV: „We are our own devil“.

Port St. Willow – Hollow [Holiday (2012)]: với những ai quen thuộc với The Antlers từ thời albumHospice (2009), họ cũng sẽ quen thuộc với Port St. Willow vì sự tương đồng trong âm nhạc của cả hai. Không bất ngờ khi hai tay trưởng nhóm là bạn từ tấm bé và cũng từng hợp tác với nhau nhiều lần. Mặc dù vậy, âm nhạc của The Antlers vẫn mang dáng dấp chính thống hơn – giai điệu, cấu trúc bài hát sắc nét, vocal sạch sẽ (dù cả 2 cùng chuộng cách hát bằng falsetto). Còn với Port St. Willow thì dường như tất cả các yếu tố đó tan chảy và hòa quyện vào với nhau. Nếu Drift Drive cùng ta chìm xuống đáy đại dương thì Hollow sẽ cùng ta đứng giữa một cách đồng thênh thang và để những làn gió âm thanh không ngừng mơn man giác quan của mình.

Fiona Apple – Extraordinary Machine [Extraordinary Machine (2005)]: Gác lại album mới đình đám của Trái Táo, hôm nay hãy cùng nghe lại một track cũ của cô. Extraordinary Machine dường như là một track có tất cả trong nó – giai điệu cực tốt, phần phối như đùa bỡn lại vô cùng hợp lý, lyrics thông minh và một giọng ca đẹp. Mọi người có thể có những diễn giải riêng cho mình từ âm thanh mà họ nghe thấy, từ một show thời trang lập dị đến chiếc đu quay trong công viên. Nhưng thật khó tưởng tượng là bài hát được viết lên bởi một cô gái dành ra 6 năm chỉ để làm… việc nhà, dắt chó đi dạo, ôm TV coi re-run của serie Columbo suốt ngày, mê Peter Falk và lấy cảm hứng nghệ thuật từ chính… sự lười biếng của mình. Âu cũng là một cách làm cho Fiona Apple rất khác biệt trong dòng nhạc đại chúng hiện nay.

Youth Lagoon – July [The Year of Hibernation (2011)]: một ngày, khi bạn bỗng hiểu ra họ đang hát điều gì, một bài hát có thể trở thành một mảnh rất riêng tư trong bạn. Khi đang tôi viết đến đây và nhận ra điều ấy, tháng 7 đã trôi qua.

Totally Enormous Extinct Disnosaurs – Household Goods [Trouble (2012)]: kết list của Ki tháng này là 1 upbeat track rất chất của Khủng Long Tuyệt Chủng Vô Cùng Bự. Orlando Higginbottom, người đứng sau cái nghệ danh lòng thòng này từng trả lời rằng, anh không cố gắng tìm tòi sáng tạo ra bất kỳ thứ gì đột phá. Tất cả những gì làm anh vui là được nhìn mọi người nhảy nhót vui vẻ theo âm nhạc của mình, dù nó có vô nghĩa đi nữa. Household Goods không có bất kỳ thứ gì mới, beat cơ bắp, hook khắp nơi, synth đan chéo nhau lập thể như giàn ánh sáng trong một sàn nhảy. Và dù không đi sàn bao giờ, nó vẫn dễ dàng là một thứ nước tăng lực hạng nặng cho tinh thần khi đang làm việc hoặc đơn giản hơn, như khi đạp xe từ trường về nhà.






Twin Shadow – Golden Light [Confess (2012)]: chưa cần phải bật nhạc của anh lên, chỉ cần nhìn vào tracklist của album Confess, đã có thể thấy chất 80s tỏa ra từ những cái tên đặc trưng mà bạn dễ thấy trên các bảng xếp hạng thời đấy (Run My Heart, The One, Be Mine Tonight,…). Bắt đầu nản ư? Nhầm to. Twin Shadow thổi vào âm nhạc của anh một thứ năng lượng vô cùng hiếm hoi mà nhiều bản pop 80s vô hồn không có được. Vocal không góc cạnh nhưng mạnh mẽ, phối khí thừa mứa mà không rườm rà, vướng víu, lyrics rõ như bàn ngày nhưng không bao giờ bị lâm vào địa hạt „sến“. NgheGolden Light, các cô có thể tưởng tượng như đang được ngồi trên mô-tô, sau lưng anh tình nhân chân thành sẵn sàng đưa các cô đi xuyên màn đêm đến bất kỳ nơi nào mà các cô muốn.

Passion Pit – I’ll Be Alright [Gossamer (2012)]: một điển hình rất hấp dẫn cho âm nhạc theo xu hướng maximalism ( đối lập với minimalism – chủ nghĩa tối giản). Drum văng tứ tung, từng lớp âm thanh điện tử bùng nổ như một màn pháo hoa sặc sỡ. Nhưng đừng lầm tưởng rằng anh Michael Angelakos đang hát về một thứ niềm vui tột độ: "Can you remember ever having any fun?/ Cause when it's all said and done I always believed we were/ But now I'm not so sure". Sự „thấy vậy mà không phải vậy“ xuyên suốt Gossamer có lẽ xuất phát từ thực tế là Michael đang phải đấu tranh với chứng rối loạn lưỡng cực, một chứng rối loạn tâm lý. Cả bài hát là sự bất lực khi Michael nhận ra bản thân mình chỉ là một mớ hỗn loạn và điều tốt nhất anh có thể làm là để để người thương yêu ra đi.

Frank Ocean - Bad Religion [channel ORANGE (2012)]: Khi nghe album Put Your Back N 2 It của Perfume Genius (playlist 06.2012), một nghệ sĩ đồng tính khác, cái làm cho âm nhạc của anh đầy cảm xúc là câu chuyện về sự đấu tranh về bản thân, về những rào cản thế giới bên ngoài dựng lên xung quanh tình yêu của anh. Còn khi xem Frank Ocean trình diễn Bad Religion trong một show truyền hình, cái làm tôi cảm động không phải bất kỳ một câu chuyện giới tính nào. Đơn giản vì anh đứng đó, một chàng trai bình thường, chân thành hát về tình yêu: „It’s a bad religion / To be in love with someone / Who could never love you“. Tình yêu không sai, đôi khi chỉ như một thứ tin ngưỡng không lành mạnh. Anh ấy hay cô ấy? Không quan trọng. Bad Religion vẫn có thể là bài hát của bạn.

Crystal Castles – Plague [TBA (2012)]: gợi nhớ rất nhiều đến track Baptism từ album thứ 2 của nhóm – Crystal Castles II. Mặc dù chưa đủ độ đã và ác liệt như một cơn bệnh dịch để khiến bạn phát ốm lên; nhưng Plague đủ sức làm một món khai vị ngon lành, một cơn dông trước khi cơn bão chính - album mới của nhóm (Crystal Castles III chăng?) đổ bộ sắp tới đây.

The XX – Angels [Coexist (2012)]: chắc hẳn nhiều người sẽ hét lên vì sung sướng khi đọc đến đây. The XX là một trong số ít các band nhạc dòng indie thử nghiệm, khai phá ra một thứ âm nhạc đặc trưng cho riêng mình nhưng vẫn rất gần gũi với người nghe. Những gì chúng ta yêu mến trong âm nhạc của họ vẫn nguyên vẹn trong Angels, tiếng guitar lẻ loi, chất giọng thì thầm ngọt như mật trong một tách trà của Romy, tiếng bộ gõ đầy bất ngờ đó đây. Nhưng có gì đã thay đổi. Nếu như toàn bộ album The XX là âm nhạc của một khu rừng ban đêm thì với Angels, ta dường như đã thấy một chút ánh sáng của buổi hừng đông. 

Daft Punk – Something About Us [Discovery (2001)]: nhắc đến album Discovery của duo người Pháp Daft Punk, rất nhiều người mê nhạc mainstream sẽ nhớ đến Harder, Better, Faster, Stronger; bản house lừng danh được Kanye West dùng làm sample trong hit bự Stronger của anh. Nhưng những ai đã nghe toàn bộ album này, chắc hẳn sẽ ấn tượng nhất với Something About Us, một bản slow jam hiếm hoi giữa một rừng các track uptempo xuất sắc khác. Vay mượn những motif của nhạc funk những năm 70s-80s, Something About Us như một scene phim đầy gợi cảm với nến, rượu vang đỏ trong cốc cao và hoa hồng trong bồn tắm. Toàn bộ phần phối chậm rãi với keyboard và phần bass rất đơn giản, vocal và guitar thay phiên nhau vuốt ve trên nền nhạc khiêm tốn. Dù để nghe trên một chiếc sofa êm ái hay trong taxi sau một đêm tiệc tùng mệt mỏi, Something About Us chắc chắn là một track hoàn hảo.

Electric Light Orchestra – Last Train To London [Discovery (1979)]: lại một track từ một album Discovery khác. Một bản disco 70s vô cùng thích hợp cho một bữa barbecue trên sân thượng một ngày đẹp trời, với lon bia trên tay và mọi người chung quanh ta đều trong tâm trạng vui vẻ.

Ariel Pink’s Haunted Graffiti – Only In My Dreams [Mature Themes (2012)]: để dễ hình dung, có thể coi âm nhạc của Ariel Pink là sự pha trộn giữa Frank Zappa với các tiền bối dòng nhạc „phê lòi“ (psychedelic pop) như The Byrds, Pink Floyd và hậu thế như Wild Nothing, Animal Collective. Một hỗn hợp giữa kẹo ngọt và chất gây nghiện. Sự phức tạp được dấu dưới vẻ lười biếng, từ tốn trong âm nhạc của Ariel Pink đôi khi làm tốn một chút ít thời gian quen tai của người nghe. Only In My Dreamsnghe chừng qua chỉ là một bản nhạc hời hợt, ngay cả trong phần lời viết như bởi một đứa trẻ 12 tuổi đang thích cô bạn cùng lớp. Nhưng phần nội dung đơn giản đấy lại vô cùng ăn ý với phần nhạc có vẻ tửng tửng lại làm toàn bộ track trở nên chất vô cùng.

Jessie Ware – Sweet Talk [Devotion (2012)]: thêm một track rất ngọt ngào trong Ka’s list kỳ này, chính như tựa đề bài hát vậy. Trong Sweet Talk, ta lại thấy chất 80s đang rất được nhiều nghệ sĩ ưa chuộng và khai thác hiện nay. Nữ tính, gợi cảm, tinh tế; Jessie Ware gợi nhớ đến một quý bà lừng lẫy của dòng R&B – Sade. Vocal điềm tĩnh nhưng vẫn nuột nà trong từng câu hát, không trình diễn những màn thể dục giọng hát nhằm chỉ khoe độ khỏe như rất nhiều ca sĩ hiện nay đang làm. Cô hát đơn giản: „It’s the sweet words that pull me in / I know I’m the weak one and I won’t say no / You give me a reason so I never go“. Đôi khi sự hấp dẫn của một giọng ca nữ không phải nằm ở sự „cương“ mà ở „nhu“, hát „I’m the weak one“ nhẹ nhàng nhưng lại nguy hiểm vô cùng.

Blur – Under the Westway (2012): Khai mạc/bế mạc Olympic năm nay gần như là dịp họp mặt rất nhiều khuôn mặt lừng danh của nhạc rock UK: Arctic Monkeys, Paul McCartney, Muse, Beady Eye (hậu-Oasis), Kaiser Chiefs và cả Queen, v.v… Rất nhiều người sẽ hỏi: Blur ở đâu? Bởi lẽ cùng với Radiohead và Oasis; Blur là một trong những band nhạc thập kỷ trước tiên phong hình thành nên âm thanh đặc trưng của nhạc pop-rock của UK hiện nay. Trở lại với Under the Westway, single mới toanh của nhóm, nó chắc chắn gợi người nghe nhớ đến Beatles, một sự kết hợp đâu đó giữa nỗi buồn trong A Day In The Life và một chút tích cực từ Let It Be, những cảm xúc như khi ta ngước nhìn lên những tòa cao ốc trong một đô thị lớn, giữa tiếng ồn của phố xá. Gần đây có tin đồn Blur sẽ rã đám mãi mãi. Dù bài hát này cũng là dấu chấm kết thúc thì cũng là một kết thúc đẹp cho sự nghiệp của nhóm nhạc từng có nhiều đóng góp này.

Download những mixtapes khác ở đây:  http://www.mediafire.com/?6q8c18ic8ahxg

Labels: ,